Theo
Trung tâm Quốc gia giống thủy sản nước ngọt Nam bộ, nơi đã thành công
trong việc nhân giống cá hô, hiện người dân các tỉnh phía Nam đặt mua
rất nhiều giống cá này. Tuy vậy, cung không đủ cầu do trung tâm chỉ có
thể đáp ứng khoảng 0,2 triệu con giống/năm.
Cá hô là loại quý hiếm, thuộc họ cá chép nhưng trọng
lượng cá sống ngoài thiên nhiên có thể lên tới 300 ki lô gam. Thịt cá
ngọt, dai, có thể chế biến thành nhiều món ăn rất hấp dẫn.
Những năm trước, một số ngư dân ở Vàm Nao (An Giang)
thỉnh thoảng vẫn bắt được những chú cá hô nặng trên 100 ki lô gam, được
các nhà hàng mua với giá hơn 150.000 đồng/ki lô gam. Tuy nhiên, hiện nay
cá hô ngoài tự nhiên còn rất ít và hơn một năm qua chưa có ngư dân nào ở
ĐBSCL bắt được con cá nào nặng hơn 100 ki lô gam.
Theo ông Châu Minh Chinh, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty
cổ phần Nông ngư quốc tế (IFACO), người tiên phong đưa con cá hô về nuôi
trong ao, bè ở An Giang, ông rất sợ chuyện nuôi cá hô sẽ thành phong
trào. “Chúng tôi thả nuôi, nhưng cũng chưa tính đến hiệu quả kinh tế cụ
thể ra sao”, ông nói.
Từ đợt thả 5.000 con cá giống đầu tiên tại An Giang
vào ngày 15-10-2008, tính đến nay IFACO đã cung cấp 20.000 con cá giống
cho năm hộ nuôi.
Ông Lê Thành Nam ở xã Bình Thủy, huyện Châu Phú, là
người nuôi nhiều nhất với 10.000 con. Sau khoảng năm tháng, có con đã
đạt trọng lượng hơn 1 ki lô gam. “Nhưng phải sau ba năm, khi trọng lượng
cá đạt hơn 10 ki lô gam thì mới có thể xuất ao bán”, ông Chinh cho
biết.
Theo ông Chinh, với thời gian nuôi khá dài như vậy
thì cá hô khó có thể so sánh về hiệu quả với những loại thủy sản nuôi
khác. Đồng thời, người nuôi cũng phải tự lo đầu ra bởi đến nay chưa có
doanh nghiệp nào đặt vấn đề thu mua.
Ông Thái Văn Hưởng, ở phường Bình Khánh, thành phố
Long Xuyên, cũng cho rằng 1.000 con cá mà ông đang nuôi chưa biết sẽ
tiêu thụ ở đâu. “Sẵn ao đang nuôi cá điêu hồng... nên thử thả nuôi ghép
luôn cá hô, thấy cá cũng dễ nuôi nên cứ để vậy”, ông nói. Còn như ông
Nam, do đang nuôi 12 héc ta cá tra, nhưng còn trống một ao diện tích 1
héc ta dành để thả cá tra quá lứa, nên cũng thử thả cá hô nuôi ghép khi
đã có mối quen biết, có thể tiêu thụ ở một số nhà hàng tại TPHCM...
Như vậy, tính ra nếu nuôi cá hô, người nuôi phải chấp
nhận khoản đầu tư không nhỏ là 10.000-15.000 đồng/con giống, mật độ thả
nuôi lại thấp (khuyến cáo dành đến 5 mét vuông/con), thời gian nuôi quá
dài và đầu ra chưa ổn định. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn, theo ông
Chinh, là hiện nay tài liệu kỹ thuật, thông tin chuyên môn về con cá hô
còn rất hạn chế, do đó chính người nuôi phải tự mày mò. Ngay cả chất
lượng cá hô nuôi có tương tự như cá tự nhiên hay không cũng không ai
biết.
Ông Chinh cho biết, do nhiều người nuôi cá tra ở An
Giang đang nản lòng vì giá cá tra bấp bênh nên quyết định đưa cá hô về
nuôi thử. “Vấn đề trước mắt mà chúng tôi và các hộ nuôi tiên phong tính
đến là bảo tồn, giữ nguồn giống loài cá quý hiếm này”, ông nói. Trong
khi đó, gần đây nhiều nông dân ở Hậu Giang, Sóc Trăng... lại hăm hở tìm
đến IFACO ngỏ ý mua cá giống, tính chuyện kinh tế.
Thực tế cho thấy cá hô có thể sống trong ao có độ sâu
khoảng 4 mét, sức đề kháng rất tốt, tỷ lệ hao hụt trong quá trình nuôi
thử hầu như không đáng kể. Mặt khác, giống cá này cũng dễ nuôi, có thể
tự tìm thức ăn từ nguồn phiêu sinh trong ao, bè và ăn cả thức ăn hỗn hợp
dành cho cá tra. Do đó việc đầu tư nghiên cứu thêm về con cá này có lẽ
cũng là điều cần thiết.
Liệu con cá hô có thể trở thành loài thủy sản nuôi
ghép với các loại cá khác? “Vấn đề hiện nay là các cơ quan chuyên môn
cần nghiên cứu, hoàn chỉnh những vấn đề về kỹ thuật như hệ số chuyển hóa
thức ăn, đầu ra...”, ông Chinh nói.