Hướng đi cho sản phẩm cá tra, ba sa ở ĐBSCL
12.08.2010 09:13
ĐBSCL hiện có 400 ngàn hécta mặt nước nuôi trồng thủy sản các loại. Hàng năm, nơi đây đã cung cấp ra thị trường hơn 1,5 triệu tấn, chiếm trên 70% sản lượng thủy sản cả nước. Trong ngành nuôi trồng thủy sản, cá tra, ba sa chiếm một số lượng không nhỏ. Tính đến nay đã có trên 6.000 hécta nuôi cá tra, ba sa tập trung với sản lượng đạt gần 1 triệu tấn. Tuy nhiên sản xuất và chế biến xuất khẩu cá tra của nước ta vẫn đang như làm gia công cho nước ngoài
Lợi nhuận thấp do chỉ làm “hàng gia công”
Theo Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn thì diện tích và sản
lượng cá tra ở ĐBSCL tính đến hết tháng 6-2010, đã thả 3.749 ha, giảm
12% so với cùng kỳ năm 2009. Nuôi quy mô lớn (từ 10 ha trở lên) tăng
mạnh, và giảm hộ nuôi nhỏ lẻ. Tại thành phố Cần Thơ, việc các hộ nuôi
thả cá nhỏ lẻ đã giảm tới 40% và nuôi quy mô lớn tăng 15%. So với cuộc
khủng hoảng thừa cá tra cách nay 2 năm, do nuôi và chế biến không gặp
nhau, thì nay tình hình đã khác nhiều. Tuy nhiên, trong 6 tháng đầu năm,
giá cá tra nguyên liệu dao động 14.000 - 18.500 đồng/kg, trong lúc giá
thành là 14.000 – 16.000 đ/kg, người nuôi cá tra có lúc đã bị lỗ.
Lợi nhuận của cả người nuôi và doanh nghiệp chế biến xuất khẩu
thấp có một phần nguyên nhân là những đơn vị xuất khẩu trong nước cạnh
tranh nhau. Sản xuất và chế biến xuất khẩu cá tra hiện nay ở ta vẫn chỉ
dừng ở dạng như đang gia công cho nước ngoài. Trong khi đó, Việt Nam vẫn
đang phải nhập thức ăn và thuốc thú y về gia công con cá, vận chuyển đi
bán để cho nước ngoài kiếm lời.
Một điều dễ nhận thấy là hầu hết các doanh nghiệp sản xuất, chế
biến cá tra, ba sa ở ta đều tự xây dựng thị trường, thương hiệu riêng,
mà chưa quan tâm thương hiệu chung của cá tra nói riêng, cũng như sản
phẩm thủy sản nói chung của Việt Nam. Một số doanh nghiệp tranh giành
thị trường bằng cách tự hạ giá sản phẩm, làm ảnh hưởng chất lượng sản
phẩm.
Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) cho
biết, trong 5 tháng đầu năm 2010, Việt Nam xuất khẩu 248.834 tấn cá tra,
trị giá 533 triệu USD. Thị trường EU vẫn chiếm tỷ trọng lớn, 35,3% về
lượng; thị trường Mỹ đạt 16.800 tấn, trị giá 52,8 triệu USD.
Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sản xuất và chế biến cá tra
bằng cách nâng cao chất lượng, không chạy theo số lượng là điều các
doanh nghiệp và người nuôi thả nên làm. Cuối năm 2010 và đầu năm 2011,
ĐBSCL vẫn duy trì sản lượng cá tra nguyên liệu 1,2 - 1,3 triệu tấn. Hỗ
trợ nuôi theo tiêu chuẩn Global GAP (tiêu chuẩn nông nghiệp sạch có giá
trị toàn cầu) và ủng hộ các doanh nghiệp xuất khẩu đồng thuận đề ra giá
sàn khi xuất vào một số thị trường chính để bảo vệ uy tín sản phẩm, đảm
bảo cho doanh nghiệp có lợi nhuận cao.
Cần có sự liên kết chặt chẽ hơn nữa trong nuôi thả cá tra, ba sa…
Theo Hiệp hội Chế biến thủy sản Việt Nam, xuất khẩu cá tra, ba sa
của Việt Nam đang tăng mạnh về số lượng với trên 100 thị trường. Từ
những quốc gia có GDP cao như Mỹ, EU, Australia, Nga… đến những nước có
GDP trung bình như Mexico và cả những quốc gia vùng Bắc Phi và Trung
Đông…
Số liệu thống kê của Hiệp hội Chế biến thủy sản Việt Nam cho
thấy: Chỉ khoảng 6.000 ha cá tra, cá ba sa nuôi nông dân Việt Nam đã thu
về khoảng 1 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu, trong khi mặt hàng tôm để thu
được trên 1,5 tỷ USD kim ngạch mỗi năm phải cần đến khoảng 600.000 ha
mặt nước. Điều này cho thấy, giá trị mang lại từ 1 ha đất nuôi cá quá
sức hấp dẫn. Không chỉ diện tích nuôi cá tăng mà đối tượng nuôi cá cũng
tăng nhanh trong thời gian ngắn, từ những người nuôi cá chuyên nghiệp
đến người trồng lúa, người có tiền ở nơi khác và cả người… bán vàng cũng
tham gia.
Hệ lụy của sự tự phát này đang để lại những hậu quả đáng tiếc.
Nguồn cung dồi dào dẫn đến sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp (DN) để
giành khách hàng, nhà nhập khẩu nước ngoài được dịp ép giá. Cá tra, ba
sa Việt Nam bị đánh thuế do bán phá giá từ thị trường Mỹ từ việc giảm
giá này. Do tỷ giá đồng EUR giảm so với USD khiến hàng thủy sản xuất
khẩu vào thị trường chung này khi quy ra USD bị đẩy giá lên quá cao. Nhà
nhập khẩu không chấp nhận giá cao, do vậy buộc phải giảm giá bán.
Điều đó giải thích vì sao, những tháng qua sản lượng xuất khẩu
tăng, nhưng giá trị lại giảm mặc dù nhu cầu vẫn còn nhiều. Hiện nay, giá
cá tra phi lê vào loại thấp, trên dưới 2 USD/kg so với trên dưới 3
USD/kg như trước. Hậu quả, giá mua cá nguyên liệu ở ngưỡng 16.000
đồng/kg, người nuôi cá không thể có lời.
Giảm giá và thừa nguyên liệu liên tục mấy năm nay đẩy người nuôi
vào tình trạng thua lỗ kéo dài, lượng người nuôi phá sản ngày càng
nhiều. Một thực tế, nguyên liệu thừa nhưng vẫn thiếu. Do tạo ra sự cung
cầu không hợp lý: Thừa cá thịt đỏ, dư cá cỡ lớn trong khi cá thịt trắng,
cỡ 800 g/con lại khan hiếm.
Trước nguy cơ này, các nhà máy phải tự xây dựng vùng nguyên liệu
từ khoảng 20%, lên 50% - 60%, thậm chí có DN tự cung ứng nguyên liệu đến
90%. Do các nhà máy không thể tự tạo 100% nguồn nguyên liệu nên phải
liên kết với những người nuôi có diện tích và vốn lớn. Việc liên kết
trên nhằm chia sẻ rủi ro và giảm bớt phần vốn DN phải bỏ ra, tạo được
chuỗi liên kết giữa các bên trong bối cảnh nguồn vốn vay ngân hàng lãi
suất vẫn cao và không dễ khó vay.
Và định hướng của các ngành chức năng
Để ngành thủy sản nói chung và nghề nuôi các tra, ba sa phát
triển bền vững, các cơ quan chức năng của trung ương và địa phương cần
thiết phải sắp xếp lại trật tự nghề nuôi và xuất khẩu thủy sản. Theo đó
nên có hàng rào kỹ thuật về việc xây dựng nhà máy. Doanh nghiệp nào có
năng lực, có thị trường, sản phẩm đạt tiêu chuẩn qui định... mới cho
xuất khẩu, nhằm tránh tình trạng cạnh tranh nội bộ không lành mạnh. Đối
với người nuôi thủy sản, những hộ nhỏ lẻ cần thiết cũng nên sang bán ao
hầm cho hộ nuôi lớn có năng lực. Đây là xu thế để hình thành vùng nuôi
tập trung, có đầu tư vốn, kỹ thuật đầy đủ, kiểm soát chặt đầu vào, đầu
ra để tạo nguồn nguyên liệu chất lượng cao. Khi có những tập đoàn mạnh
làm ăn bài bản, có trách nhiệm, có đầu tư vùng nguyên liệu gắn kết với
người nuôi thì lúc đó việc quản lý và kiểm soát giá cả, đầu vào, đầu ra
sẽ dễ dàng hơn.
Nhiều nhà chuyên môn tin tưởng, tới đây ngành thủy sản ở ĐBSCL sẽ
tiếp tục phát triển, bởi nhu cầu tiêu thụ thủy sản trên thế giới rất
lớn. Nếu so sánh với sản phẩm cá hồi của Na Uy, Nhật, Nga, hay cá rô phi
của Trung Quốc thì cá tra, cá ba sa của nước ta vẫn chiếm ưu thế rõ rệt
trên thương trường quốc tế. Vấn đề là chúng ta nhanh chóng sắp xếp, quy
hoạch lại một cách căn cơ từ vùng nuôi đến sản xuất giống, chăm sóc,
thu hoạch, chế biến, xuất khẩu... Tất cả phải dựa trên những quy định,
tiêu chí, tiêu chuẩn quốc tế. Để làm được điều này, Nhà nước cần đóng
vai trò sẽ là nhạc trưởng để sắp xếp lại nghề cá theo hướng phát triển
bền vững. Hy vọng, việc qui hoạch và nhanh chóng triển khai các biện
pháp cấp bách để cứu con cá tra, ba sa ở ĐBSCL cần được Chính phủ và các
địa phương chú ý để thúc đẩy ngành sản xuất này thành ngành sản xuất
hàng xuất khẩu chủ lực của ĐBSCL nói riêng và đất nước nói chung, nhằm
mang lại nguồn thu nhập, nâng cao đời sống người dân./.
K.V
CMC (Theo Viet Linh) |